본문 바로가기
KERD
논문KCI 등재

TÌNH TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA SÁCH CÔNG CỤ HÁN NÔM VIỆT NAM

0

조회

0

다운로드

1

인용

0

참고문헌

키워드

주제분류기타인문학

초록

Sách công cụ là loại sách gồm có tự điển, từ điển và những sách phục vụ cho việc tra cứu được biên soạn dùng cho một ngành khoa học hoặc nhiều ngành khoa học có liên quan. Sự ra đời của sách công cụ là một nhu cầu tất yếu của đời sống văn hóa xã hội và trình độ phát triển của khoa học, cũng là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học trong tương lai. Như mọi người đã biết, vào thời kỳ trung đại, các nước vùng Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán và đã sử dụng chữ Hán trong một thời gian nhất định. Ở Việt Nam, thời kỳ này, chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để ghi chép trước thuật, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài và phát triển văn hoá dân tộc. Từ chữ Hán (漢字), người Việt Nam sáng tạo ra chữ Nôm (喃字). Xét về mặt vị trí, thì chữ Hán được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng, được xem là văn tự chính thống của quốc gia. Còn chữ Nôm được phát triển mạnh trong sáng tác văn học, tuy nhiên cũng có những triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng chữ Nôm, như triều nhà Hồ (1400 - 1407) và triều Tây Sơn (1788 - 1802). Như vậy, hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để ghi chép các loại công văn tài liệu, sáng tác trước thuật sách vở và khắc trên các bia đá, chuông đồng, biển gỗ, và các loại tư liệu khác, v.v.. Những thư tịch, tư liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm này, ngày nay ở Việt Nam được gọi là di sản Hán Nôm. Việc biên soạn sách công cụ Hán Nôm ở Việt Nam luôn có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn để phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu các cổ tịch viết bằng Hán và chữ Nôm. Theo ý kiến của một số học giả, ở Việt Nam việc biên soạn những bộ sách công cụ xuất hiện từ thế kỷ XV, tạo nên những phương tiện tra cứu cần thiết khi tiếp cận tư liệu Hán Nôm cho các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung, nghiên cứu Hán Nôm nói riêng. Sách công cụ ở Việt Nam rất đa dạng, từ điển, tự điển, loại chuyên ngành, loại đa ngành, loại giải thích từ ngữ, loại tra cứu (gồm thư tịch, điển cố điển tích nhân vật lịch sử, các nhà khoa bảng, tác gia Hán Nôm, v.v...); đặc biệt là những sách công cụ này lại được thể hiện bằng nhiều loại văn tự, như: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Nôm Tày (dân tộc Tày Việt Nam), chữ Việt (Quốc ngữ dùng hiện nay), chữ Thái (dân tộc Thái Việt Nam) chữ Pháp, chữ Bồ Đào Nha, v.v... Trong bài viết này chúng tôi xin trình bày khái quát về tình trạng chung và những vấn đề cấp thiết của sách công cụ chữ Hán chữ Nôm Việt Nam (gọi tắt là sách công cụ Hán Nôm).

Abstract

Sách công cụ là loại sách gồm có tự điển, từ điển và những sách phục vụ cho việc tra cứu được biên soạn dùng cho một ngành khoa học hoặc nhiều ngành khoa học có liên quan. Sự ra đời của sách công cụ là một nhu cầu tất yếu của đời sống văn hóa xã hội và trình độ phát triển của khoa học, cũng là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học trong tương lai. Như mọi người đã biết, vào thời kỳ trung đại, các nước vùng Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán và đã sử dụng chữ Hán trong một thời gian nhất định. Ở Việt Nam, thời kỳ này, chữ Hán trở thành một phương tiện quan trọng để ghi chép trước thuật, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài và phát triển văn hoá dân tộc. Từ chữ Hán (漢字), người Việt Nam sáng tạo ra chữ Nôm (喃字). Xét về mặt vị trí, thì chữ Hán được nhiều triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng, được xem là văn tự chính thống của quốc gia. Còn chữ Nôm được phát triển mạnh trong sáng tác văn học, tuy nhiên cũng có những triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng chữ Nôm, như triều nhà Hồ (1400 - 1407) và triều Tây Sơn (1788 - 1802). Như vậy, hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để ghi chép các loại công văn tài liệu, sáng tác trước thuật sách vở và khắc trên các bia đá, chuông đồng, biển gỗ, và các loại tư liệu khác, v.v.. Những thư tịch, tư liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm này, ngày nay ở Việt Nam được gọi là di sản Hán Nôm. Việc biên soạn sách công cụ Hán Nôm ở Việt Nam luôn có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn để phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu các cổ tịch viết bằng Hán và chữ Nôm. Theo ý kiến của một số học giả, ở Việt Nam việc biên soạn những bộ sách công cụ xuất hiện từ thế kỷ XV, tạo nên những phương tiện tra cứu cần thiết khi tiếp cận tư liệu Hán Nôm cho các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung, nghiên cứu Hán Nôm nói riêng. Sách công cụ ở Việt Nam rất đa dạng, từ điển, tự điển, loại chuyên ngành, loại đa ngành, loại giải thích từ ngữ, loại tra cứu (gồm thư tịch, điển cố điển tích nhân vật lịch sử, các nhà khoa bảng, tác gia Hán Nôm, v.v...); đặc biệt là những sách công cụ này lại được thể hiện bằng nhiều loại văn tự, như: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Nôm Tày (dân tộc Tày Việt Nam), chữ Việt (Quốc ngữ dùng hiện nay), chữ Thái (dân tộc Thái Việt Nam) chữ Pháp, chữ Bồ Đào Nha, v.v... Trong bài viết này chúng tôi xin trình bày khái quát về tình trạng chung và những vấn đề cấp thiết của sách công cụ chữ Hán chữ Nôm Việt Nam (gọi tắt là sách công cụ Hán Nôm).

참고문헌 (24)

  1. "Ấu học ngũ ngôn thi 幼學五言詩, in năm Tự Đức 16", ~ (1863)
  2. Trần Xuân Ngọc, "Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa" (1985), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
  3. do Túc Y Viện 宿醫院, "Chỉ Nam bị loại 指南備類", ~
  4. Nghĩa, "Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu" (1993), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
  5. "Hải Châu Tử Nguyễn Văn San 海珠子阮文珊 (khoảng thế kỷ XIX): Đại Nam quốc ngữ 大南國語", Thành Thái Kỉ Hợi, ~ (1899)
  6. Đặng Xuân Bảng 鄧春榜, "Nam phương danh vật bị khảo 南方名物備考", ~
  7. Đào Duy Anh, "Hán Việt từ điển 漢越詞典, Quan Hải tùng thư" (1932)
  8. Phúc Điền Hòa thượng 福田和尚, "Đạo giáo nguyên lưu 道教原流", ~
  9. Ngô Đức Thọ, "Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọ câm", Tạp chí Hán Nôm, (3) (2005)
  10. Ngô Thì Nhậm 吳時任, "Tam thiên tự giải âm 三千字解音", ~
  11. Phạm Đình Hổ 范廷琥, "Nhật dụng thường đàm 日用常談", ~
  12. Nguyễn Xuân Hoài, "Tự điển Hán Việt hành thảo 漢越行草字典", Nhà xuất bản Thế giới (1998)
  13. Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, "Hán Việt tự điển 漢越字典" (1942)
  14. Trịnh Khắc Mạnh, "Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam (11 tập)" (2005), Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin
  15. Trịnh Khắc Mạnh, "Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam (22 tập)" (2003), Nguyễn VănNguyên - Philippe Papin chỉ đạo, Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin
  16. "Từ điển Trung Việt 中越 辭典" (1992), Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  17. "Tự Đức thánh chế giải nghĩa ca 嗣德聖制解義歌, in năm Thành Thái thứ 9", ~ (1897)
  18. Nguyễn Quang Hồng, "Tự điển chữ Nôm 字典 字宁 喃" (2006), Nhà xuất bản NhàGiáo dục
  19. Trần Văn Giáp, "Tìm hiểu kho sách Hán Nôm 對漢喃書庫的考察 (2 tập)" (1984), Nhà xuấtbản Khoa học xã hội
  20. Trịnh Khắc Mạnh, "Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam" (2002), Nhà xuất bảnKhoa học xã hội
  21. Trịnh Khắc Mạnh, "Đối chiếu chữ Hán thể Triện-Thảo- Khải" (1997), Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  22. "Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam do Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu" (2006), Nhà xuất bảnGiáo dục
  23. Văn Tân, "Từ điển Trung Việt 中越辭典" (1957)
  24. Vũ Văn Kính, "Đại tự điển chữ Nôm 大字典字宁喃" (1999)

관련 논문AI추천

이 간행물의 다른 논문 (8건)